Hành động khoanh tay nói lên điều gì?

Nấp sau rào chắn là phản ứng bình thường mà ta học được để bảo vệ mình lúc nhỏ. Khi đó, bất kỳ lúc nào thấy bị đe dọa, ta nấp sau những vật chắc chắn như bàn, ghế, đồ gỗ và váy của mẹ. Càng lớn, hành vi này càng trở nên phức tạp hơn. Đến khoảng 6 tuổi, khi hành vi ẩn nấp sau những sự vật cụ thể không còn phù hợp thì ta học cách khoanh chặt tay trước ngực nếu thấy bị đe dọa. Ở tuổi teen, ta học cách thực hiện tư thế này theo hướng khéo léo hơn là thả lỏng cánh tay một chút và kết hợp với tư thế bắt chéo chân.

Khi lớn hơn, cử chỉ khoanh tay có thể phát triển tinh vi hơn nữa. Bằng cách khoanh một hoặc cả hai cánh tay trước ngực, ta tạo ra một rào chắn. Đó là nỗ lực vô thức để chặn những gì ta xem là mối đe dọa hoặc những tình huống không mong muốn. Cánh tay được đặt gọn trước vùng tim và phổi để bảo vệ những cơ quan trọng yếu này khỏi bị tổn thương, do đó, rất có khả năng hành động này là theo bản năng.

Khỉ và tinh tinh cũng thể hiện hành động này để bảo vệ nó khỏi một đòn tấn công trực diện. Một điều chắc chắn là khi một người có thái độ lo lắng, tiêu cực hoặc phòng bị, rất có thể họ sẽ khoanh chặt tay trước ngực – hành động cho thấy họ đang cảm giác bị đe dọa.

Tại Sao Khoanh Tay Lại Có Thể Có Hại?

Nghiên cứu về tư thế khoanh tay cho ra những kết quả thú vị. Một nhóm tình nguyện viên được yêu cầu tham dự một loạt buổi học mà không bắt chéo chân, không khoanh tay và ngồi một cách thoải mái. Vào cuối buổi học, mỗi học viên được kiểm tra về mức độ nhớ bài và kiến thức của bài giảng cũng như thái độ đối với giảng viên. Nhóm thứ hai cũng trải qua quá trình tương tự, nhưng họ được yêu cầu khoanh chặt tay trước ngực trong suốt bài giảng. Kết quả cho thấy nhóm khoanh tay học và nhớ được kém hơn 40% so với nhóm không khoanh tay. Nhóm thứ hai cũng có quan điểm tiêu cực hơn về bài giảng và về giảng viên.

Khi khoanh tay, uy tín của bạn giảm đáng kể.

Hình thức kiểm tra này đã được tiến hành nhiều năm trước với 1.500 sinh viên trong suốt các bài giảng khác nhau và cũng cho kết quả gần như tương tự. Những bài kiểm tra này tiết lộ rằng khi người nghe khoanh tay, họ không chỉ có suy nghĩ tiêu cực hơn về người nói mà còn chú ý ít hơn đến những gì đang được trình bày. Vì lý do này nên các trung tâm đào tạo nên trang bị ghế ngồi có tay vịn để người học không khoanh tay.

Tôi Hiểu… Nhưng Khoanh Tay Làm Tôi Thấy “Thoải Mái”

Vài người nói rằng họ có thói quen khoanh tay vì thấy nó thoải mái. Bất kỳ tư thế nào cũng sẽ làm bạn thấy thoải mái khi nó phù hợp với thái độ của bạn; nghĩa là nếu bạn có thái độ tiêu cực, phòng bị hoặc lo lắng, khoanh tay sẽ làm bạn thấy thoải mái. Nếu bạn đang vui vẻ với bạn bè, khoanh tay sẽ làm bạn thấy không ổn.

Hãy nhớ rằng với ngôn ngữ cơ thể, ý nghĩa của thông điệp còn phụ thuộc vào người nhận chứ không chỉ người gửi. Bạn có thể thấy “thoải mái” khi khoanh tay, nhưng các nghiên cứu đã chỉ ra rằng đối phương sẽ có phản ứng tiêu cực lại tư thế đó. Do đó, bài học ở đây rất rõ ràng – tránh khoanh tay trong mọi trường hợp trừ khi ý định của bạn là cho người ta biết bạn không đồng ý hoặc không muốn tham gia.

Bạn có thể cảm thấy khoanh tay chỉ đơn giản khiến bạn thoải mái nhưng người khác sẽ cho rằng bạn khó gần.

Khác Biệt Giới Tính

Cánh tay đàn ông hơi hướng vào trong còn cánh tay phụ nữ thì hơi hướng ra ngoài. Khác biệt này giúp đàn ông nhắm và ném chính xác hơn, trong khi khuỷu tay hướng ra ngoài của phụ nữ giúp họ vững vàng hơn khi ẵm em bé. Một khác biệt thú vị là phụ nữ có xu hướng giữ cho cánh tay mở nhiều hơn khi ở cạnh người đàn ông mà họ thấy thu hút, và có xu hướng khoanh tay trước ngực nhiều hơn khi ở gần người đàn ông hung hăng hoặc không thu hút.

Cánh tay hướng vào trong giúp đàn ông ném chính xác hơn; cánh tay hướng ra ngoài giúp phụ nữ ẵm bồng tốt hơn.

1. Khoanh Tay Trước Ngực

Khoanh 2 tay trước ngực cho thấy nỗ lực tạo rào chắn giữa mình và đối phương hoặc giữa mình và thứ gì đó mình không thích. Có nhiều tư thế khoanh tay và ta sẽ xem xét những tư thế thường gặp nhất ở đây. Khoanh tay trước ngực là động tác rất phổ biến và được xem là có ý nghĩa phòng bị hoặc tiêu cực ở hầu như mọi nơi. Ta thường bắt gặp hành vi này ở những người lạ trong các nơi hội họp công cộng, khi xếp hàng trong quán nước, trong thang máy hoặc bất kỳ nơi nào người ta thấy không chắc chắn hoặc không an toàn.

Chúng tôi đã dự một cuộc họp của hội đồng thành phố, trong đó họ tranh luận về vấn đề đốn rừng của các nhà khai thác đất. Họ ngồi một bên, còn đối thủ của họ, các nhà bảo vệ môi trường, thì ngồi đối diện. Khoảng một nửa trong số đó khoanh tay khi cuộc họp bắt đầu. Khi bên khai thác đất phát biểu, 90% số nhà bảo vệ môi trường khoanh tay và khi bên bảo vệ môi trường phát biểu, hầu như 100% nhà khai thác đất khoanh tay. Điều này cho thấy hầu hết mọi người sẽ khoanh tay khi không đồng tình với những gì đang nghe được. Nhiều diễn giả đã không truyền tải được thông điệp của mình tới khán giả vì họ không nhận ra tư thế khoanh tay của khán giả. Những diễn giả có kinh nghiệm biết rằng khi tư thế này xuất hiện nghĩa là họ cần phải “hạ rào chắn” để chuyển khán giả sang một tư thế cởi mở hơn và chuyển thái độ từ tiêu cực sang tích cực.

Khi bạn thấy ai đó khoanh tay lại, khả năng cao là bạn đã nói điều gì đó mà họ không đồng ý. Có lẽ tiếp tục tranh luận cũng vô nghĩa cho dù ngoài miệng đối phương có thể đồng ý với bạn. Thực tế là ngôn ngữ cơ thể trung thực hơn lời nói.

Mục tiêu của bạn phải là cố gắng tìm hiểu nguyên nhân vì sao người ta khoanh tay và cố gắng chuyển họ sang một tư thế cởi mở hơn. Thái độ sẽ làm người ta chọn tư thế tương ứng và duy trì tư thế đó tức là duy trì thái độ tương ứng.

Giải pháp

Một cách đơn giản nhưng hiệu quả để phá vỡ tư thế khoanh tay là đưa cho người nghe cầm cái cái gì đó hoặc cho họ làm việc gì đó. Đưa bút, sách, tờ quảng cáo, bài kiểm tra mẫu sẽ buộc họ thả tay ra và nghiêng về phía trước. Cách này làm họ chuyển sang tư thế cởi mở hơn và dẫn đến thái độ cũng cởi mở hơn. Đề nghị mọi người nghiêng về phía trước để theo dõi bài thuyết trình cũng có thể là một cách hiệu quả để “gỡ” tư thế khoanh tay. Bạn cũng có thể nghiêng về phía trước với lòng bàn tay ngửa lên và nói, “Tôi nhận thấy anh/chị đang có thắc mắc… anh/chị muốn hỏi gì?” hoặc, “Anh/chị nghĩ sao?” Sau đó, bạn có thể ngồi xuống và ngả ra sau để ra hiệu đến lượt họ nói. Bạn đã dùng lòng bàn tay để gửi cho họ thông điệp không lời rằng bạn muốn họ cởi mở và thành thật vì bạn cũng đang như vậy.

2. Khoanh Tay Và Nắm Chặt Bàn Tay

Nếu một người có tư thế khoanh tay và nắm chặt bàn tay, họ đang có thái độ thù địch và phòng bị. Nếu kết hợp với kiểu cười mím môi hoặc nghiến răng và mặt đỏ lên thì tranh cãi hoặc thậm chí là vũ lực có thể sẽ xảy ra. Bạn cần có phương pháp tiếp cận mềm mỏng hơn để tìm hiểu nguyên nhân. Người trong tư thế này đang thể hiện thái độ hung hăng và gây chiến.

Tư thế khoanh tay và nắm chặt bàn tay thể hiện thái độ hung hăng.

3. Khoanh Tay Và Nắm Chặt Cánh Tay

Người này vừa khoanh tay vừa dùng bàn tay nắm lấy phần cánh tay trên để củng cố rào chắn và tránh lộ phần thân trước. Đôi khi họ nắm cánh tay chặt đến nỗi ngón và khớp tay trắng bệch vì máu không lưu thông được. Đó là tư thế thể hiện sự an ủi bản thân dưới hình thức tự ôm lấy mình. Tư thế này thường xuất hiện trong phòng chờ khám bác sĩ và nha sĩ hoặc ở sân bay đối với những người đi máy báy lần đầu. Nó thể hiện thái độ tiêu cực và kìm nén.

Khoanh tay và nắm chặt cánh tay: cảm thấy bất an và không tin vào những gì đối phương nói.

Trên tòa, ta có thể thấy nguyên cáo có tư thế khoanh tay và nắm chặt bàn tay trong khi bị cáo có tư thế khoanh tay và nắm chặt cánh tay.

4. Giơ Ngón Cái Lên

Giơ ngón cái lên: phòng bị, nhưng vẫn nghĩ mình khá bình tĩnh.

Tư thế này cho thấy anh ta đang cảm thấy bình tĩnh và tự chủ. Khi nói chuyện, anh dùng ngón cái để nhấn mạnh ý của mình. Như đã nói, cử chỉ giơ ngón cái lên thể hiện thái độ tự tin và khoanh tay vẫn cho ta cảm giác được bảo vệ.

Người thể hiện sự phòng bị lẫn phục tùng sẽ ngồi ở tư thế đối xứng, nghĩa là tư thế của 2 bên cơ thể sẽ giống nhau. Cơ họ căng ra và trông như thể họ đang chờ bị tấn công. Trong khi một người phòng bị nhưng vẫn thể hiện sự kiểm soát sẽ chọn tư thế bất đối xứng, nghĩa là tư thế của 2 bên cơ thể không giống nhau.

Khi bạn đang trình bày thông tin cho đối phương và thấy xuất hiện cử chỉ giơ ngón cái lên cùng với những cử chỉ tích cực khác khi bài trình bày sắp kết thúc nghĩa là bạn có thể thoải mái chuyển sang bước yêu cầu cam kết. Mặt khác, nếu khi kết thúc bài thuyết trình, đối phương có tư thế khoanh tay và nắm chặt bàn tay, đồng thời gương mặt họ không biểu cảm thì có thể bạn sẽ gặp rắc rối nếu tìm cách yêu cầu họ nói “có”. Bạn nên đặt câu hỏi để tìm hiểu những sự phản đối của họ. Khi đối phương nói “không”, ta rất khó làm họ đổi ý mà không trông như thể là ta đang hung hăng. Khả năng đọc ngôn ngữ cơ thể cho phép bạn “thấy được” một quyết định tiêu cực trước khi đối phương nói rõ ra và nó giúp bạn có thêm thời gian đổi sang một cách tiếp cận khác.

Những người đem vũ khí hoặc mặc áo giáp hiếm khi khoanh tay vì vũ khí hoặc áo giáp đã cung cấp đủ sự bảo vệ cho cơ thể họ. Ví dụ như các viên cảnh sát mang súng ít khi nào khoanh tay trừ khi đứng gác, Khi đó, họ thường dùng tư thế khoanh tay và nắm chặt bàn tay để cảnh báo rõ là không ai được phép xâm phạm khu vực họ đang gác.

5. Tự Ôm Lấy Mình

Khi còn nhỏ, ta được cha mẹ hoặc bảo mẫu ôm ấp vỗ về khi gặp tình huống căng thẳng hoặc khó khăn. Khi trưởng thành, ta thường cố gắng tạo lại những cảm giác an ủi đó khi gặp tình huống căng thẳng. Thay vì khoanh 2 tay – tư thế cho mọi người biết ta đang sợ, phụ nữ thường thay bằng một tư thế tinh tế hơn –khoanh một tay. Đó là tư thế khoanh một cánh tay ngang người để nắm hoặc chạm vào cánh tay kia, tạo ra rào chắn và nhìn như thể ta đang tự ôm mình. Rào chắn tạo ra do tư thế này thường xuất hiện trong những cuộc họp mà ta có thể không quen thuộc hoặc đang thiếu tự tin. Bất kỳ phụ nữ nào dùng tư thế này trong một tình huống căng thẳng cũng thường khăng khăng họ thấy “ổn”.

Tư thế khoanh một tay, hay “tự ôm mình”.

6. Tư Thế Khóa Kéo Hỏng

Đó cũng là tư thế mà đàn ông chọn khi đứng xếp hàng tại nơi phát chẩn hoặc nhận phúc lợi an ninh xã hội. Nó biểu lộ cảm giác chán nản và dễ tổn thương của họ. Tư thế này mô phỏng cảm giác có ai đó nắm tay mình.

Có thể nhu cầu tiến hóa đã thu ngắn cánh tay của đàn ông lại để họ tạo ra được tư thế bảo vệ này vì khi những họ hàng linh trưởng gần nhất với chúng ta, loài tinh tinh, thực hiện tư thế này, tay nó sẽ bắt chéo ở đầu gối.

Con người tìm cách che đậy những bộ phận mà họ cho rằng đó là điểm yếu hoặc dễ bị tổn thương nhất.

Nguồn: ubrand.cool

Chia sẻ ý kiến của bạn:

Chia sẻ